Giác hơi Vũ tuyền đặc sắc từ chẩn đoán đến điều trị, làm đẹp, giảm béo

Đăng bởi Ncs, Thạc sỹ, bác sỹ Tôn Mạnh Cường | 04/09/2018 | 0 bình luận

 

Giác hơi Vũ Tuyền là một trong những phương pháp điều trị không dùng thuốc, được xem như là liệu pháp vào loại tốt nhất trong vật lý trị liệu, được lưu truyền trong dân gian như một phương pháp mát xa, thư giãn, chẩn đoán bệnh, điều trị với phương pháp thực hiện và kinh nghiệm lâm sàng phong phú kết hợp tinh hoa y học cổ truyền với thành tựu y sinh học, y học, miễn dịch của Y học hiện đại.

Giác hơi điều trị được gọi là giác pháp, là một liệu pháp dùng nhiệt độ cao làm giãn nở và đẩy không khí ra bên ngoài, tạo áp suất âm trong lòng ống giác, gây ra kích thích vật lý và áp lực nhân tạo trong lòng giác làm vỡ mao mạch bị tắc nghẽn, huy động tế bào gốc đến sửa chữa chức năng, hấp thụ tế bào máu bị hoại tử, thúc đẩy tuần hoàn máu, kích thích tinh khí, điều hòa khí huyết nhằm cải thiện và điều tiết khả năng miễn dịch cơ thể.

1. Phương pháp giác hơi Vũ Tuyền có gì độc đáo ?
Giác hơi là một phương pháp điều trị độc đáo được lưu truyền rộng rãi 10 năm gần đây trong dân gian, bên cạnh đó có những ghi nhận trong cổ văn y học cổ truyền về phương pháp này như “hỏa quán khí” trong “Bản thảo cương mục thập di” tác giả Triệu Học Mẫn, “bạt đồng pháp” trong “Ngoại khoa chánh tông” tác giả Trần Thực Công.

 

                   

 

Thời cổ đại được dùng nhiều trong ngoại khoa ung thũng, ban đầu dùng vỏ sò hoặc sừng trâu để làm ống giác vì vậy một số cổ tịch gọi chung là “giác pháp”. Giác pháp được đề cập sớm nhất bằng văn bảng trong “Trửu hậu phương” của Cát Hồng. Sau này, chất liệu ống giác được thay thế bằng ống trúc, gốm sứ hoặc thủy tinh để tăng tính tiện dụng và thẩm mỹ hơn. Phạm vi trị liệu không chỉ giới hạn trong ngoại khoa ung thũng mà phát triển dùng điều trị đau phong thấp, đau eo lưng, đau đầu, hen suyễn, đau bụng, ngoại thương ứ huyết, đặc biệt hay được dùng trong phong thấp cảm mạo, các chứng nhức mỏi.

Liệu pháp giác hơi Vũ Tuyền là một kỹ thuật mới phát triển dựa trên cơ sở của giác hơi truyền thống, xây dựng trên nền tảng lý luận mới về lĩnh vực dưỡng sinh bảo vệ sức khỏe, một ngành khoa học mới, một văn hóa mới. nó cải tiến giác hơi truyền thống, khiến cho giác hơi ngoài đơn giản truyền thống còn có chức năng giác hơi, cứu ngải, châm cứu, từ châm, thủy châm, điểm huyệt, đồng thời tiến thêm 1 bước ra đời biến giác hơi Vũ Tuyền có chức năng chẩn đoán bệnh tật.

Thông qua số lượng lớn các ca bệnh trên lâm sàng, Giác hơi Vũ Tuyền phát hiện ra các vùng đặc định chức năng trên lưng của ngũ tạng lục phủ, vùng chức năng các tạng phủ 5 phút giác hơi, có thể căn cứ vào dấu ấn giác lưu trên da ở vị trí khác nhau có màu sắc, hình thái biểu hiện khác nhau đối với bệnh tật của ngũ tạng lục phủ bách hài để tiến hành định vị, định tính, đánh dấu. Kết quả chẩn đoán không chỉ chẩn đoán âm dương, biểu lý, hư thực, hàn nhiệt phán đoán của bệnh tật, cũng có thể đối chiếu tương ứng với các chỉ tiêu kiểm tra xét nghiệm của y học hiện đại, có thể chẩn đoán chính xác được bệnh mắc cũng có thể biết được bệnh đang hình thành ( trạng thái chưa bị bệnh – trạng thái sức khỏe thứ 3).

Đặc điểm các vị trí các vùng đặc định tạng phủ trên lưng khác với phân bố tiết đoạn thần kinh tây y và khác với một số sách xoa bóp bấm huyệt, du mộ huyệt Đông y nhưng giá trị chẩn đoán tạng phủ theo sơ đồ mới là chính xác, hơn nữa thông qua các liệu pháp điều trị của phương pháp này cho hiệu quả thay đổi được kiểm chứng bằng các thiết bị tây y như xét nghiệm máu, sinh hóa, siêu âm, chụp cắt lớp... do đó giá trị của nó là rất cao và đặc sắc khác nhiều với phương pháp giác hơi truyền thống.

 

                   

 

Vũ Tuyền giác hơi chẩn đoán ở trên thực tiễn đã thực hiện phân tích chi tiết hóa đồ hình và tiêu chuẩn hóa bệnh tật để giúp các Y bác sỹ thực hành chính xác về cả chẩn đoán và thao tác kỹ thuật.

Giác hơi Vũ Tuyền liệu pháp kế thừa giác hơi truyền thống, lại kết hợp với nhiều kỹ thuật hiện đại, đồng thời trong quá trình giác hơi có thể cùng thực hiện thủy châm, cứu ngải, xung điện, châm cứu, phụ có thể dùng hồng ngoại, từ trường để phối hợp nâng cao hiệu quả chữa các bệnh khó, bệnh ác tính. Thông qua sáng tạo thủ pháp và gia nhập cứu ngải có hiệu quả giải quyết vấn đề khó trong giác hơi truyền truyền nên tả không nên bổ. các liệu pháp đặc sắc như “Song quan thông thấu”, “Tam quan cường trị”, “Tứ quan bảo kiện”, “Ngũ quan cường thân”, “Lục quan bài độc”, “Thất quan khử sũng”, “Bát quan cân bằng âm dương”, “Cửu quan giảm béo đẹp người”, “Thập tứ quan trị tiểu đường” và hai mươi bẩy bước điều tiết tổng hợp đều là các phương phát trên thực tiễn lâm sàng nghiệm chứng và ứng dụng rộng rãi, khách quan khoa học, thực hành có hiệu quả.

                    

 

Bộ giác hơi này cũng có nhiều điểm khác với bộ giác hơi ở Vn hay TQ trước đây sản xuất, giá của nó khoảng 11 đến 15 triệu đồng Việt Nam. Nhưng dụng cụ chỉ là 1 phần, quan trọng bí quyết cách thao tác sao cho hiệu quả, đạt được điều trị, các vết ấn giác lưu lại có giá trị chẩn đoán, đó là kỹ thuật không phải nói là làm được. Bạn cần có các chuyên gia kinh nghiệm hướng dẫn, xem xét trên từng người bệnh, sự nghiêm túc, tận tâm, tinh thần cầu thị sẽ giúp bạn năm được bí quyết của phương pháp như tất cả các bạn đã học.

Thông qua 10 năm thực tiễn lâm sàng và phát triển, sáng tạo. Phương pháp Vũ Tuyền giác hơi đã xây dựng hoàn chỉnh một hệ thống chẩn đoán bao gồm các dụng cụ, hệ thống lý luận chẩn đoán giác hơi, đào tạo, thực hành lâm sàng giác hơi Vũ Tuyền đặc sắc, là con đường mới kế thừa và phát triển y học cổ truyền.
2. Giác hơi Vũ Tuyền từ điều trị đến chẩn đoán như thế nào ?
2.1. Các vết giác cho Bạn thông tin gì ?
Các đặc điểm 11 vùng đặc định trên lưng của phương pháp giác hơi Vũ Tuyền
- Phương pháp chẩn đoán giác Vũ Tuyền sử dụng vùng lưng là nơi chẩn đoán vì lưng đường đi ra của các dây thần kinh chi phối các tạng phủ, các chi và theo lý luận Trung y Mạch Đốc là mạch chủ đạo dương khí toàn thân, vùng lưng có mối liên quan đến các tạng trong lồng ngực và ổ bụng rất vi diệu, vùng lưng ngoài mạch Đốc còn kinh Bàng Quang là kinh đi cạnh 2 bên cột sống, kinh này đi xuyên dọc toàn thân. 6 kinh dương giao với Đốc mạch ở huyệt Đại Chùy. 
- Kinh Bàng Quang là đường kinh dài nhất có thể có nhiều huyệt vị nhất, nằm phân bố 12 cặp Du huyệt, các du huyệt là huyệt vị lưu chuyển khí huyết của ngũ tạng, lục phủ ở vùng lưng, các du huyệt phân bố vị trí tương ứng với các tạng phủ, là các điểm cảm ứng của các tạng phủ. Từ những cấu tạo, vị trí, chức năng trên cho thấy, lưng chính là cửa sổ thống ra ngoài của các tạng phủ, đồng thời cũng là nơi diện tích lớn nhất của cơ thể, là nơi chẩn đoán bệnh tật thông qua giác hơi tốt nhất. 
- Các vị trí giác được chọn là các vùng đặc định cho biểu hiện các chức năng tạng phủ theo YHCT và YHHĐ ( dựa trên cơ sở học thuyết cục bộ có mang thông tin chỉnh thể) các vùng này khi tạng phụ bị bệnh sẽ có các biểu hiện thông tin ra bên ngoài, nó rõ hơn sau khi giác hơi, qua vết giác giúp bác sỹ căn cứ vào vị trí, màu sắc, hình thái để chẩn đoán bệnh và đưa ra phương pháp điều trị phù hợp giúp điều chỉnh chức năng các tạng phủ bên trong.
- Phương pháp Vũ Tuyền chọn 11 điểm đặc định vùng lưng là các vùng phản xạ tương ứng các tạng phủ cơ thể ( ảnh 1). Lần lượt là vùng Phế, Tâm, Can, Tỳ, Vị, Đại trường, Tiểu trường, Thận trái, phải, Bàng quang. Các vùng chức năng lại phân thành các vùng nhỏ, mỗi vùng chức năng nhỏ gọi là khu phản xạ của vùng chức năng, mỗi vùng chức năng tương ứng với 1 tạng phủ, biểu hiện ra bên ngoài của các vùng chức năng tạng phủ. Khi cơ thể bị bệnh nó sẽ biểu hiện ra ngoài tương úng với các vùng đặc định ở lưng. Do đó, các vùng này dưới sự kích thích của dụng cụ giác sẽ kích thích.

                        


- Thông qua hình ảnh vết giác, màu sắc căn cứ vào các lý luận “ Từ hình đoán tạng”, “ Nhìn biểu hiện ứng bên ngoài, biết tạng bên trong”, “Tạng ở bên trong, hình thấy ở ngoài”. Giác hơi Vũ Tuyền thể hiện mối liên hệ tương ứng mật thiết cục bộ với chỉnh thể, cũng thể được “ Kéo 1 cái mà động toàn thân”. Hình ảnh thu được sau khi giác xong gọi là vết giác, kích thước to, nhỏ, hình thái, trạng thái, sắc da, bề mặt da lồi lõm, chân lông đóng mở của vết giác được gọi là hình giác. Vết giác và hình giác có mối liên hệ với nhau, không thể tách rời, là căn cứ chẩn đoán của giác hơi Vũ Tuyền, thông qua phân tích vết giác và hình giác có thể đọc được trạng thái các tạng phủ, các giác quan khai khiếu của các tạng và cơ thể đồng thời chẩn đoán ra bệnh lý, chứng hậu các cơ quan tạng phủ tương ứng. 
3. Đặc điểm của giác hơi Vũ Tuyền : 
3.1. Tính chỉnh thể thống nhất : Cơ thể là một chỉnh thể có tính hữu cơ, mỗi tổ chức cơ quan thông qua hệ thống kinh lạc liên lạc với nhau, hình thành chỉnh thể thống nhất không thể tách rời, tương hỗ lẫn nhau.
3.2. Tính chân thực trực quan : Chẩn đoán giác hơi Vũ Tuyền được coi là một phương pháp chẩn đoán của Trung y. Có 11 vùng đặc định của ngũ tạng lục phủ, xây dựng 11 vùng chức năng tương ứng với ngũ tạng lục phủ, thông qua giác hơi có thể chẩn đoán chính xác nguyên nhân, vị trí và các biểu hiện lâm sàng phát bệnh của ngũ tạng lục phủ.
3.3. Nhanh và chính xác : phương pháp này chỉ cần 5 phút, có thể chẩn đoán ra nguyên nhân và tình trạng bệnh, có thể biết khi “chưa bị bệnh”, “ đã bị bệnh”, “ Sắp bị bệnh”. Có thể đưa ra chẩn đoán định vị, định tính, định lượng kết quả có thể so sánh đối chiếu với y học hiện đại. Cho thấy phương pháp chẩn đoán có tính khách quan, giản tiện hơn.
3.4. Tính thực dụng, kinh tế : thực dụng kinh tế, là tiêu chuẩn kiểm nghiệm có cao nhất cho 1 sản phẩm cũng là kỹ thuật có hàng định cao nhất. Giác hơi Vũ Tuyền không chỉ chẩn đoán chính xác, mà còn có giá trị kinh tế thực dụng đặc biệt phù hợp với người dân nông thôn điều kiện kinh tế còn khó khăn. Đối với việc chăm sóc sức khỏe trong gia đình cũng là sự lựa chọn tốt do dễ thực hiện, chủ động phát hiện bệnh, không có bất kỳ tác dụng phụ nào.
3.5. Tính quần chúng có thể áp dụng rộng rãi :
Phương pháp này kế thừa và phát triển văn hóa dưỡng sinh trung y 5000 năm, phương pháp chẩn đoán được cụ thể xây dựng sơ đồ chẩn đoán trực quan, tiêu chuẩn hóa, dễ học, dễ vận dụng. Có thể áp dụng đối với mọi người có trình độ văn hóa khác nhau, đặc thù kinh tế khác nhau, phương pháp giản tiện, hiệu quả, kinh tế.

4. Năm bước thực hiện chẩn đoán vết giác 
Vũ Tuyền chẩn giác dùng dụng cụ giác tạo môi trường áp lực chân không, có cộng hưởng từ chấn từ trường vật lý sản sinh ra và từ trường vật lý, thông qua đường truyền dẫn của kinh lạc, bệnh lý của các tạng phủ sẽ hiện trên vết giác, hình giác. Căn cứ màu sắc, hình thái của ban ứ trên vết giác để chẩn đoán “ ảnh tượng”. Để có thể nhận ra bản chất gốc của bệnh, cần thực hiện qua 5 bước gọi là Ngũ bộ chẩn đoán pháp. 
4.1. Phương pháp chẩn đoán nhìn vết giác
Phương pháp chẩn đoán giác Vũ Tuyền là phương pháp giác lên các vùng phản xạ tạng phủ trên lưng người bệnh, sau đó căn cứ vào màu sắc, sự thay đổi hình giác của vết giác để chẩn đoán. Thông qua sự thay đổi sử màu sắc, khí sắc có thể chẩn đoán giai đoạn sớm của bệnh, dự phòng sớm, điều trị sớm, đặc biệt đối bệnh ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe như ung thư, đái tháo đường, bệnh tim mạch có cảnh báo sớm.
4.2. Phương pháp chẩn đoán nhìn hình giác : 
Phương pháp chẩn đoán qua hình giác là phương pháp căn cứ vào hình giác các vùng chức năng tạng phủ sau lưng, thông qua sự thay đổi hình trạng, hình thái của hình giác để chẩn đoán. Phương pháp này có thể cho ra kết quả chẩn đoán có định tính, định vị, định lượng.
4.3. Phương pháp chẩn đoán tổng hợp : phương pháp chẩn đoán tổng hợp là phương pháp căn cứ màu sắc, hình tượng, khí sắc và hình thái của hình giác trên lưng của các vùng phản xạ chứng năng đặc định của tạng phủ để phán đoán bệnh tật. Có thể phán đoán được tình trạng phát sinh, nguyên nhân, tiên lượng, quá trình bị bệnh.
4.4. Chẩn đoán qua nguyên tố vi lượng : là phương pháp quan sát các yếu tố vi lượng của cơ thể và sự thay đổi màu sắc sắc sáng, màu sắc, hình thái, khí sắc của các hình giác trên các vùng chức năng tạng phủ trên lưng. Phương pháp này có thể cho kết quả tình trạng cân bằng các yếu tố vi lượng trong cơ thể.
4.5. Phương pháp chẩn đoán là phương pháp thông qua màu sắc vết giác, hình giác, cự ly giác và khí sắc, hình thái, sự biến hóa hình thái của vết giác trên vùng chức năng đặc định tạng phủ ở lưng để chẩn đoán. Có thể cho kết quả các bệnh lý tiềm ẩn và bệnh lý thần kinh, huyết dịch, xương khớp của cơ thể.

5. Lưu ý về dụng cụ giác hơi của Vũ Tuyền
Cổ truyền thường dùng các loại cốc giác như sừng thú, tre trúc, thủy tinh, ly sứ có khả năng hâp thụ nhiệt khác nhau, nên tính toán thời gian đốt phù hợp để tạo áp suất cần thiết cũng như không làm quá nóng miệng ống giác. Nhưng các dụng cụ này cho các kết quả kiểm soát nhiệt, áp suất, khi giác có thể phối hợp các phương pháp khác là không thể, chính vì vậy mà dụng cụ giác Vũ Tuyền giải quyết tất các các nhược điểm của phương pháp cũ, sáng tạo cốc vật liệu mới có thể tái sử dụng nhiều lần, phù hợp các tiêu chí của phương pháp với độ chính xác cao.

                             


Được dùng trị liệu ngoại khoa ung thũng, đau phong thấp, đau eo lưng, đau đầu, hen suyễn, đau bụng, ngoại thương ứ huyết
Ống giác có miệng tiếp xúc đủ rộng và mịn, để không làm tổn thương vùng da thịt tiếp xúc ống giác. Có thể sử dụng một số chất bôi trơn, chẳng hạn như dầu parafin, thuốc mỡ vaselin thoa lên miệng lọ, để ngăn chặn tổn thương da trong quá trình giác.
Lựa chọn tư thế giác thích hợp cho người được giác để thả lỏng các cơ dễ tác động sâu xuống phần cơ; thoải mái cho người giác để thao tác dễ dàng, thời gian thao tác tỉ lệ nghịch với áp suất lòng ống và hiệu quả của phương pháp; bộc lộ tốt vùng cần giác các bộ phận có nhiều lông không phù hợp cho việc duy trì áp suất lòng giác, vùng cơ ít sẽ làm ống giác khó giữ chặt.
Chống chỉ định: dị ứng da, loét, phù nề và vị trí phân bố mạch máu lớn, các cơn co giật sốt cao, cũng như vùng trước tim, vùng bụng dưới của phụ nữ mang thai.

Đây là phương pháp giác hơi được kết hợp giữa y học cổ truyền và y học hiện đại cho hiệu quả cao, không khó để thực hành nó, chi phí thấp, không đòi hỏi có trình độ y tế chuyên sâu, có thể ứng dụng rộng rãi giúp chẩn đoán sớm, điều trị sớm, dự phòng sớm nhiều bệnh trong đó có các bệnh nguy hiểm như ung bướu, tiểu đường, bệnh tim mạch được giới y học cổ truyền đánh giá cao.