BÀI VIẾT MỚI NHẤT

Nguyên lý châm cứu Trung Y

Đăng bởi Ncs, Thạc sỹ, bác sỹ Tôn Mạnh Cường | 04/09/2018 | 0 bình luận

Trung Y là một hệ thống chữa bệnh hoàn chỉnh mà theo ghi chép đã xuất hiện lần đầu tiên vào khoảng 100 năm trước Công Nguyên. Trung Quốc, Nhật, Hàn Quốc, và Việt Nam sau đó đã phát triển những hình thức đặc thù riêng từ hệ thống gốc của Trung Quốc.

Trung Y mô tả sinh lý học và tinh thần học của con người bằng khí, một dạng năng lượng sống mà lưu chuyển thông qua các kênh năng lượng được gọi là các đường kinh lạc. Trung Y liên liên hệ đặc biệt các trạng thái tinh thần cụ thể và chức năng của cơ thể với các đường kinh lạc tương ứng.

                        

Sự cân bằng về khí được mô tả bằng khái niệm âm và dương, nó đại diện cho sự trái ngược về tính chất của năng lượng. Con người được coi là khoẻ mạnh khi khí vận chuyển trong mỗi kinh được cân bằng về âm dương, đầy đủ, và dịch chuyển một cách tự do đúng hướng.

Châm cứu, một trong những phương thức điều trị chủ yếu của Trung Y, là phương pháp y học xa xưa nhất và thông dụng nhất trên thế giới. Châm cứu đã được sử dụng riêng biệt hoặc kết hợp với Tây Y để điều trị khá nhiều những rối loạn thần kinh, chẳng hạn như trầm cảm, lo âu, mất ngủ, đau đớn, và nghiện ngập. Có khá nhiều những tài liệu khoa học chứng minh tác dụng của châm cứu.

Khí (cũng được đánh vần là “chi”) là khái niệm chủ yếu trong Trung Y. Khí là một dạng của năng lượng mà tồn tại cả bên trong và bên ngoài cơ thể người. Ví dụ, thuật ngữ thông dụng mô tả sinh lý học con người, chẳng hạn như khí huyết, vệ khí, tạng khí, kinh khí, dưỡng khí, và những thứ mô tả ngoại tà, chẳng hạn như phong, thấp, nhiệt, hàn, thử, phản ánh rằng khí là năng lượng phía sau vẻ ngoài hoặc chức năng của chính chúng ta hoặc của vũ trụ xung quanh chúng ta.

                 

Bằng cách bảo tồn khái niệm này, khí cũng mô tả chức năng thần kinh và những cảm xúc. Trong tiếng Trung, cảm xúc được theo sau bởi từ khí; ví dụ, sự tức giận được gọi là “tức khí”, và sự vui mừng được gọi là “hảo khí”. Do đó, khi được can thiệp bằng châm cứu hoặc dược thảo Trung Quốc, nó không chỉ có tác động đến chức năng vật lý của cơ thể mà còn các chức năng về thần kinh và cảm xúc.

Chất lượng của khí được phân loại thành hai nhóm chính: âm và dương. Âm và dương là những năng lượng đối lập nhưng tồn tại một cách độc lập. Khí dương cần sự nuôi dưỡng của khí âm để hoạt động, và khí âm cần chức năng của khí dương để được tạo ra và sử dụng.

Khi khí âm bị suy (nhược), khí dương sẽ thịnh. Điều này có thể diễn hoá thành những triệu chứng giống như nóng nảy, đổ mồ hôi đêm, lo lắng, khó ngủ, cao huyết áp, và táo bón. Khi khí dương bị suy, khí âm thịnh, nó có thể biểu hiện bằng sự tăng cảm giác lạnh lẽo, mệt mỏi, tiêu chảy, trao đổi chất bị chậm lại, ứ nước, tụt huyết áp, và vận động thần kinh chậm chạp.

Sự trầm cảm nặng là biểu hiện tâm thần cực đoan của khí âm thịnh và khí dương suy. Bệnh tâm thần thì trái lại, là sự biểu hiện quá độ của khí dương thịnh và khí âm suy. Sự chuyển đổi khác thường giữa cực âm và cực dương là tương tự như hình thái cực đồ. Điều kiện tiên quyết trong điều trị của bác sĩ Trung Y là cân bằng khí âm và khí dương.

Do bản chất bao hàm, tương quan, và giống như mạng lưới của hệ thống kinh lạc trong Trung Y, những kết nối đặc biệt giữa mỗi đường kinh, với chức năng thể chất và cảm xúc có sẵn, làm cho nó trở thành một mô hình hoàn chỉnh của sự hiểu biết về sức khoẻ thể chất và tinh thần.

                

Những biểu lộ về nhận thức và cảm xúc được nhìn như thành phần của khí, và mỗi đường kinh chịu trách nhiệm cho những chức năng tinh thần cụ thể. Ví dụ, sự đau khổ là được biểu hiện thông qua phế kinh, và mọi người trong quá trình đau khổ có thể nhạy cảm hơn với các bệnh truyền nhiễm hệ hô hấp trên.

Trong khi các mẫu y sinh có thể diễn giải một sự kết hợp như thế bằng suy giảm miễn dịch do căng thẳng kéo dài vì buồn bã, Trung Y có thể mô tả vấn đề bằng nguyên nhân cảm xúc, gây ra sự mất cân bằng trong phế kinh (nơi khống chế sự buồn bã), trở nên suy nhược về khí một cách tương ứng.

Trong Trung Y, các cảm xúc và chức năng tinh thần không bị hạn chế bởi não nhưng được nhìn nhận xa hơn như là sự tương tác giữa não và các kinh lạc. Nhìn theo cách khác, thì bộ não là một phần của mỗi kinh độc lập. Sức khoẻ của mỗi đường kinh tác động tới não, một cơ quan được gọi là siêu thường trong Trung Y.

Theo Trung Y, cơ thể người là một tiểu vũ trụ và mang đặc tính của tự nhiên.

Ngũ tạng có mang tính chất và năng lượng ngũ hành. Can (gan) thuộc mộc và gió; tâm (tim) tạng, thuộc hoả và nhiệt, tì vị thuộc thổ và ẩm ướt; phế (phổi) tạng, thuộc kim và khô ráo; thận thuộc thuỷ và hàn.

Các vòng tương sinh và tương khắc giải thích mối liên hệ của một “hành” với “hành” khác. Vòng sinh mô tả mối liên hệ tương sinh của ngũ hành: Mộc có thể sinh hoả; hoả có thể bồi đắp cho thổ; thổ cung cấp kim loại; kim có thể bị tan chảy; và thuỷ có thể làm cây cối sinh sôi.

Các xúc cảm của những “hành” đó có cùng sự tương sinh: Sự đầy đủ (gan) có thể tạo niềm vui (hoả); sự vui sướng (tâm) dẫn tới tự tin (thổ); lòng tự tin dẫn đến sự sung mãn về tinh thần (kim), tạo ra động lực (thuỷ); và động lực lại có thể mang đến cảm giác về sự đầy đủ.

Vòng khắc mô tả mối quan hệ xung khắc của ngũ hành: nước thì dập lửa; lửa làm tan chảy kim; kim cắt được mộc; mộc thì mọc xuyên vào thổ; và thổ thì có thể ngăn cản được thuỷ.

Tương tự, có một sự xung khắc như thế về khía cảnh cảm xúc của những hành này: Sợ hãi (thận, thuỷ) có thể hạn chế sự phấn khích (tâm, hoả); sự thoả mãn có thể lấn án nỗi buồn (phế, kim); buồn phiền có thể hạn chế tức giận (gan, mộc); sự tức giận có thể che lấp nỗi lo âu (tì, thổ); và sự lo lắng có thể che đậy sự sợ hãi.

Ví dụ, một bệnh nhân đang khóc có thể che đậy được nỗi tức giận tiềm ẩn; sự tức giận có thể diễn hoá thành lo lắng. Nỗi sợ hãi có thể được dùng để khống chế sự hưng phấn, và thói quen tìm cảm giác mạnh có thể được dùng để tránh sự đau buồn.

Sự ổn định của một sinh thể là ngũ hành phải ở trạng thái cân bằng. Khi một “hành” vượng hoặc suy, nó tác động tới mối tương quan giữa các hành khác.

Mộc quá vượng có thể gây rối loạn cho sự hoạt động của kim và lấn át thổ. Khi gan bì trì trệ với nỗi bực tức và oán hận, nó có thể tạo ra những triệu chứng trong phổi, chẳng hạn như ho, thở khò khè, buồn bã và tác động tới tuyến tuỵ, tạo nêu triệu chứng khó tiêu, mệt mỏi, và lo lắng.

Khi một hành bị suy, nó có thể không “sinh” hay điều khiển được. Ví dụ, nếu thận khí bị suy – do mối liên hệ trong vòng sinh khắc – nó có thể tạo nên sự suy yếu của gan, gây nên chứng thiếu ngủ, chóng mặt, và trầm cảm, và sự quá tải của tim, dẫn tới nhịp tim nhanh, lo lắng, và mất ngủ.

Do đó, những triệu chứng lâm sàng của những tuyến đặc biệt hoặc sự mất cân bằng của “hành” có thể là nguyên nhân trọng yếu của tuyến hoặc “hành” đó hoặc có thể là nguyên nhân thứ yếu với tuyến khác hoặc hành mà có tác động xuôi theo vòng. Một bác sĩ Trung Y có kinh nghiệm có những cách để ước định những vấn đề này và quyết định những sự bất bình thường chủ yếu và thứ yếu.

                      

Theo lý thuyết Trung Y, các tạng có những điểm trên bề mặt của cơ thể mà thường xuyên trao đổi với môi trường bên ngoài. Những điểm trên bề mặt này, được gọi là huyệt, có thể được sử dụng để điều chỉnh tình trạng của khí thông qua các tạng tới khắp nơi bên trong cơ thể.

Trong Trung Y thực hành cổ điển, đại phu phải đánh giá tình trạng khí của bệnh nhân liên quan với các tạng và quyết định phác đồ điều trị hợp lý. Ông ta hoặc bà ta sẽ lựa chọn những bộ huyệt và thủ pháp châm cứu để khôi phục lại sự cân bằng. Các đại phu giỏi sẽ hỏi về các triệu chứng một cách có hệ thống và khám xét các dấu hiệu, bao gồm xem lưỡi, bắt mạch, để chẩn đoán.

Trong thời hiện đại, châm cứu không thường xuyên được sử dụng do nền tảng lý thuyết của Trung Y cổ điển. Một số thêm vào các kích thích điện với những cây kim để tăng hiệu quả của chúng. Những người khác đã phát triển một phương thức điều trị cố định cho mọi bệnh nhân với một tình trạng nhất định mà không liên quan đến việc khám về tình trạng khí và các tạng.

Sự không nhất quán trong việc làm sao châm cứu được tiếp cận và ứng dụng có thể phần nào do sự khác nhau giữa các nghiên cứu. Khi được hoàn thành theo nguyên lý của Trung Y, châm cứu trông cậy vào sự đánh giá về năng lượng mà nó phục thuộc vào kinh nghiệm lâm sàng và sự học tập của người châm trên nền tảng lý thuyết về Trung Y.

Sự khác nhau đặc thù về dạng năng lượng và các thủ pháp châm kim biến ảo làm nó trở nên khó khăn để tạo thành những nghiên cứu khách quan và những phương thức thí nghiệm chuẩn.

(Theo The Epoch Times)