BÀI VIẾT MỚI NHẤT

Tags

Từ tác dụng của thận dương theo Yhct, bàn về tác dụng thận dương thực chất ( phần cuối)

Đăng bởi Ncs, Thạc sỹ, bác sỹ Tôn Mạnh Cường | 12/09/2018 | 0 bình luận

Từ chức năng Thận theo Yhct Bàn về chức năng Thận dương thực chất ( phần cuối )

4。Thận là gốc tiên thiên, Thận chủ về cốt tủy, tủy sinh huyết

Nếu tiên thiên sung túc, Thận tinh sung mãn, huyết tủy hải tự nhiên sẽ không ngừng được sinh ra, ngược lại nếu tiên thiên bất túc, thận khí khuy tổn thì Tủy không sung, tủy hư thì tinh huyết không được phục sinh. Cho nên Thận dương bất túc, không phấn chấn thì không thể ôn ấm các tạng, dẫn đến cục diện khí huyết lương khuy do Tâm hư không có khả năng chủ huyết, Tỳ hư không có khả năng thống huyết, Can hư không có khả năng tàng huyết, trên lâm sàng có thể thấy, chức năng tạo máu của Tủy xương bị ảnh hưởng dẫn đến tình trạng thiếu máu không hồi phục do không tạo được máu đó là cơ chế bệnh lý của nó. Đối với Thiếu máu do Tủy xương không tạo máu, rất nhiều lương y có kinh nghiệm khi điều trị thể thiếu máu này đều chủ trương dùng pháp Bổ thận điền tinh, ôn Thận trợ dương để tiến hành điều trị.

 

                           

 

Tống Duy Tân học viện Trung y Bắc Kinh cũng có chuyên luận nói “ Nghiên cứu nguyên nhân của thiếu máu không hồi phục, gốc bệnh là do Tỳ Thận dương hư, Thận dương khuy tổn.. bệnh nhân đều có chứng Tỳ thận dương hư ở mức độ khác nhau, vì vậy trong điều trị cần phải tùy cơ chú ý dựa vào quan hệ tiên thiên hậu thiên của 2 kinh Tỳ Thận. Trong quá trình dùng thuốc, phát hiện thấy khi dùng thuốc trợ dương có thể thấy hiện tượng hồng cầu tăng tương đối rõ rệt, triệu chứng âm huyết hư cũng dần dần cải thiện, cho thấy dương của ôn bổ tỳ thận là nguyên tắc cơ bản gốc sinh ra máu. Giáo sư Hoàng Văn Hải Thượng Hải đối với chứng này thì đề xuất dùng nhiều Lộc giác giao, Tiên linh tỳ, Ba kích thiên.. thuốc ôn nhu trợ dương ( có tác dụng hóc môn), ít dụng Phụ tử, Quế chi loại cương táo trợ dương ( tác dụng Epinephrine ), tiến hành điều trị trợ dương mà không thương âm, có thể thu được hiệu quả mỹ mãn. Tóm lại, phương pháp điều trị dùng thuốc ôn bổ thận dương ( Mệnh môn) điều trị Thiếu máu không hồi phục, có thể thu được hiệu quả tốt, đây là quan điểm chúng ta không cần hoài nghi.

Mà Tây y đối với điều trị thiếu máu không hồi phục, thì đề xuất sử dụng lượng lớn Testosterone, cho thấy thông qua cho tetosterone và Estrogen, nâng cao mức hóc môn sinh dục trong huyết tương, có thể ức chế và cải thiện tình trạng loãng xương, mật độ xương sẽ tăng, tủy xương sẽ được nó thẩm thấu các chất, chức năng tạo máu của tủy xương tự nhiên cũng tương ứng được cải thiện, từ đó đạt đến tác dụng điều trị và giảm triệu chứng. Căn cứ tư liệu nghiên cứu nước ngoài cũng chứng minh thực nghiệm tương tự cho biết “ Hóc môn sinh dục xúc tiến hoạt động tạo hồng cầu của tủy xương”. Cũng có người dùng Estrogen dùng điều trị tủy xương bị ức chế ở bệnh nhân suy thận mạn tính, tạo thành chứng thiếu máu do không sinh hồng cầu. Nghiên cứu chứng minh : Sau khi cho Estrogen, Hematocrite và số lượng hồng cầu đều tăng, mà nhu cầu truyền máu giảm, đồng thời không ghi nhận tác dụng phụ.

5。Phương diện Thận sinh tủy, sung não, mối liên quan giữa hóc môn giới tính và Thận dương :

Thận tàng tinh mà tinh sinh tủy, tủy có phân tủy xương, tủy sống, tủy thượng thông lên não, não là nơi hội tụ của tủy mà thành. Công năng của não là chủ về hoạt động tinh thần, tư duy ý thức, vận động tùy ý. Cho nên “ Linh khu – Hải Luận” nói “ Não là bể của Tủy, bể Tủy là phủ thần minh” do ở nguồn sinh thành của Não tủy ở Thận tinh, cho nên công năng của não tất dựa vào sự hóa sinh không ngừng của Thận tinh, Do đó có thể nói hoạt động tùy ý, vận động tư duy tinh thần của con người cũng là 1 phương diện công năng của Thận.

Nếu tinh khí của Thận sung túc, Não tủy sung nhuận thì tinh lực sung thực, nhanh nhẹn có lực, thông minh, tư duy mẫn tiệp, động tác như ý, ngược lại nếu Tinh khí của Thận khuy thiểu, Tủy hải bất túc, thì xuất hiện mệt mỏi, lưng gối đau mỏi, mắt kém tai ù, tư duy chậm chạp, hay quên, vận động không chuẩn. Trương Tích Thuần trong < Trung Trung tây tham lục> nói : Nội kinh luận con người có tứ hải, Não là tủy hải, con người sắc dục quá độ, thì tủy tất trống, tủy hải con người trống quá, người tất thấy nặng đầu, chóng mặt, người nhẹ thì mệt mỏi ngủ nhiều, tinh thần hoàng mang, người nặng thì chân tay liệt không nói. Có thể nguyên nhân của bản chất của bệnh này.. chứng này do Não thiếu máu là trọng yếu nhất, trị nó nên dùng thuốc tuấn bổ Thận gia Lộc giác giao để thông Đốc mạch, đồng thời Thanh não quả dục, theo thang này uống không được, vẫn tinh bổ não, dùng 1 vài tuần sẽ thu được hiệu quả. Cũng là phản ánh mói quan hệ tinh khí của Thận ( Thận dương) và Não.

Đối với Não tủy trống hư mà dẫn đến chứng liệt ( vận động khó khăn). Trung y cũng đều chủ trương dùng các vị bổ thận tráng dương, còn Thanh bổ Não, Cổ nhân có Địa Hoàng ẩm từ trị khó nói ở bệnh nhân liệt, Trương Tích Thuần sáng tạo Can Đồi thang và Bổ não chấn ủy thang đều có ý đồ này. Trên lâm sàng thấy cho uống Lộc Nhung, Lộc Giác giao, Tiên Mao, Uy Linh Tiên, Ba Kích Thiên, Bổ Cốt Chi, Nhục Thung Dung, Thỏ Ty Tử..là các thuốc bổ dương có công dụng ôn Thận trợ đốc, có tác dụng sung mãn tinh lực tăng cường sức chú ý và hiệu suất công việc.

 

                                            

 

Điều thú vị là Tây y cũng có quan điểm này, nồng độ HCG, Testosterone, Estrogen huyết tương không chỉ ảnh hưởng đến chức năng tạo máu của tủy xương, mật độ xương mà còn trực tiếp tác dụng phát dục ở Não có liên quan rất mật thiết. Từng có nghiên cứu như sau : Cho Nam giới khỏe mạnh tiêm dưới da mỗi ngày 300 UI HCG, liên tục 4 ngày, ngày cuối cùng phát hiện Testosterone trong huyết tương tăng cao gấp 2- 3 lần, người được tiêm cảm thấy tinh thần thỏa mái, không có cảm giác mệt mỏi chút nào. Ngược lại phát hiện không có nhu cầu tình dục và rối loạn chức năng tình dục, bệnh nhân mà mức hóc môn tình dục thấp thì có trí nhớ giảm và sức tập trung ở mức độ khác nhau. Từ kết quả trên cho thấy, thuốc trợ dương Trung y đều có tác dụng tăng hàm lượng PG, HCG tây y đây lại là 1 sự trùng hợp, xác nhận có vật chất cơ bản nội tại bên trong nó.

6。Vinh nhuận ra ở Tóc cùng mối liên quan đến hóc môn giới tính

Trung y cho rằng, dinh dưỡng tóc của con người tuy có nguồn đến từ huyết, có câu “ Tóc là phần dư của huyết” mà cơ chế lại ở Thận. Cho nên <Nội Kinh – thiên Ngũ tạng sinh thành> nói : “Thận chủ cốt, nó vinh nhuận ra tóc”. Tóc là biểu hiện bên ngoài của Thận, tóc mọc và rụng, nhuận hay khô xơ đều có liên quan đến Thận tinh. Thiếu niên Thận khí xung mãn cho nên tóc đen, sáng nhuận, tuổi già Thận tinh khuy hư thì tóc bạc, rụng. Vấn đề tóc bạc màu và tóc rụng hiện nay tây y vẫn chưa rõ cơ chế, bởi vậy rất khó chứng minh mối liên hệ giữa Thận dương và hóc môn sinh dục. Nhưng năm 1976, có 1 báo cáo từ nước ngoài nói : khả năng rụng tóc ở người già có liên quan đến hóc môn sinh dục, mức hóc môn sinh dục trong huyết tương giảm, có liên quan đến Heparin. Giống như quan điểm có liên đến tuyến Yên – hóc môn sinh dục.

7。Thận chủ khí toàn thân :

Thận chủ khí trong Đông y có 2 hàm ý, một là chỉ “ Động khí ở Thận” tức Mệnh môn theo cách gọi của Hậu thế, chủ khí của toàn thân. < Nạn kinh – Điều 8> viết : “ 12 kinh mạch đều gắn ở 1 nguồn sinh khí, cho nên nguồn sinh khí là gốc của 12 kinh, gọi là động khí của Thận, gốc của ngũ tạng lục phủ này, gốc của 12 kinh, cửa của hô hấp, nguồn của tam tiêu”. Lại nói “ Thận trái Mệnh môn phải, Mệnh môn là nơi ở ban đầu ở tinh thần, giữ nguyên khí...” sau đó Trương Cảnh Nhạc, Triệu Dưỡng Quỳ đã nói Mệnh môn tướng hỏa là gốc của ngũ tạng lục phủ, tức là từ khoảng động khí của Thận chuyển hóa lại mà thành. Đối với khoảng động khí của Thận, là bộ vị và thực chất của Mệnh môn, cổ nhân tuy có nhận thức khác nhau, về mặt công năng “ Mệnh môn, khoảng động khí Thận” thuộc dương chủ tướng hỏa, là 1 loại nhiệt năng và động năng, là gốc nguyên khí của cơ thể, là 1 nơi sản sinh ra nhiệt năng, đồng thời nhận thức là chỉ đạo và chi phối hoạt động của ngũ tạng lục phủ, tức là cơ bản là một. Trên lâm sàng chứng thực, chứng Mệnh môn Mệnh môn hỏa suy và chứng Thận dương bất túc cũng thuộc 1 loại, thuốc bổ Mệnh môn hỏa lại có tác dụng bổ thận dương. Do vậy cho rằng, Cổ kim đề xuất khái niệm Mệnh môn động khí ở khoảng Thận, chỉ là tác dụng Thận dương nổi trội. Mệnh môn chính là Thận dương, Bởi vậy, Nguyên khí Mệnh môn động khí khoảng gian Thận cũng chính là Thận dương chủ khí của toàn thân, đó là tên gọi đổi khác mà thôi.

                                      

Một hàm ý khác của Thận chủ khí toàn thân là “Thận chủ về nạp khí” khí của hô hấp, chỉ Thận có công năng của nhiếp nạp khí trợ Phế chủ hô hấp. Hô hấp của cơ thể tuy do Phế làm chủ, nhưng khí hít vào cần sự nạp xuống của Thận, cho nên nói “Phế chủ hô hấp, thận chủ nạp khí”, mà chức năng nạp khí của Thận, lại là tác dụng dụng chủ yếu của dương khí trong Thận. Nếu dương khí trong Thận sung mãn, Phế đắc được sự ôn dưỡng của nó mới có thể thông sướng đường hô hấp, hô hấp đều đặn, khí trong cơ thể trao đổi bình thường. Ngược lại nếu Thận khí bất túc, nhiệp nạp vô quyền, khí không được thu nạp sẽ phù việt lên trên, sẽ xuất hiện triệu chứng thở nhiều hít ít, động thì khó thở, hô hấp khó khăn, thường gặp ở viêm phế quản mạn tính, khí phế thũng, hen phế quản... biểu hiện như chứng Thận không nạp được khí. Cho nên cho rằng công năng của “ Thận chủ nạp khí” trên thực tế lại động khí khoảng Thận thuật trên, trong Mệnh môn Thận dương.
Tổng quan của 2 kiến giải trên, có thể cho biết thảo luận công năng của Thận nạp khí, đều chỉ thảo luận công nặng của Thận dương mà thôi, trước là chỉ Thận dương chủ nguyên khí toàn thân – Khí toàn thân, sau là chủ Thận dương sự trao đổi khí trong ngoài cơ thể - khí hô hấp.

8. Thận dương chủ khí toàn thân và mối quan hệ với AMPc :

Thận chủ khí toàn thân, Y học hiện đại nghiên cứu phát hiện nó với AMPc có liên quan. Căn cứ Nghiên cứu Quảng An Khôn trung tâm huyết áp Thượng Hải phát hiện, khí hư dương, khí âm lưỡng hư ( Khí hư là phạm trù thể nhẹ của Dương hư), bệnh nhân có hàm lượng AMPc thấp rõ rệt so với giá trị bình thường, mà hàm lượng AMPc huyết tương của bệnh nhân Khí thịnh dương kháng thì cao hơn ở bệnh nhân Dương hư. Căn cứ vào nghiên cứu ở Nhật Bản thuốc bổ khí Nhân Sâm của Trung y trong thành phần có ảnh hưởng quan trọng đối với AMPc, phát hiện sau khi cho thuốc thấy AMPc của tuyến thượng Thận tăng cực cao, sau 30 phút ước đạt 1,7 – 1,8 lần. ở Trung Quốc đã tiến hành nghiên cứu với Hoàng Kỳ cho thấy, giống như vậy thấy tăng hàm lượng AMPc huyết tương, mà chúng ta đều biết AMPc trong lĩnh vực y học hiện đại, được coi là vật chất có hiệu ứng sinh lý rộng rãi trong cơ thể, được gọi là chất truyền tin thứ 2, thông qua nó có thể điều tiết lượng Glycogen trong tế bào.

Ths, Bs Tôn Mạnh Cường