BÀI VIẾT MỚI NHẤT

Y học cổ truyền và hội chứng rối loạn lipid máu

Đăng bởi Ncs, Thạc sỹ, bác sỹ Tôn Mạnh Cường | 23/08/2018 | 0 bình luận

Đã từ lâu, hội chứng rối loạn lipid máu nói riêng và bệnh vữa xơ động mạch nói chung đã trở thành vấn đề thời sự của y học ở nhiều nước trên thế giới, đặc biệt là các nước phát triển. Trong những năm gần đây, ở nước ta hội chứng này có xu hướng gia tăng theo đà phát triển của nền kinh tế và sự cải thiện mức sống.

 

              

 

Mặc dù nguyên nhân của bệnh vữa xơ động mạch chưa hoàn toàn được làm sáng tỏ nhưng hội chứng rối loạn lipid máu đã được chính thức coi là một trong những yếu tố nguy cơ quan trọng nhất tạo điều kiện thuận lợi cho sự hình thành và phát triển của mảng vữa xơ. Bởi vậy về mặt điều trị vấn đề điều chỉnh hội chứng này có ý nghĩa hết sức quan trọng.

Trong y văn của y học cổ truyền (YHCT) không có cụm từ “rối loạn lipid máu”, nhưng căn cứ trên các biểu hiện lâm sàng có thể thấy hội chứng này thuộc phạm vi các chứng “đàm ẩm”, “huyết ứ”, “đầu thống”, “tâm quí”, “hung tý” của YHCT. Trong đó vấn đề “đàm trọc” là nổi bật hơn cả.

Theo quan niệm của YHCT, đàm có thể chia ra làm hai loại: đàm nghĩa hẹp và đàm nghĩa rộng. Đàm nghĩa hẹp nói chung là để chỉ vật ứ lại ở phế và được đưa ra ngoài hay còn gọi là đàm hữu hình hay ngoại đàm. Đàm nghĩa rộng là để chỉ thứ đàm do công năng các tạng phủ rối loạn hoặc hư tổn sinh ra. Vì khó quan sát được nên gọi là đàm vô hình hoặc nội đàm (đàm trọc nội sinh). Loại đàm này là sản phẩm trung gian từ nước chuyển thành tân dịch, bao giờ cũng có một lượng nhất định, khi tạng phủ bị rối loạn hoặc hư yếu chúng tăng lên nhiều và trở thành yếu tố gây hại rất rộng lớn. Vì thế, người xưa có thuyết “bách bệnh kiêm đàm”, “bách bệnh đa nhân đàm tác sùng”.

 

       

 

Trong những năm gần đây, nhiều nghiên cứu trong và ngoài nước, đặc biệt ở Trung Quốc đã đi sâu phân tích, tìm mối liên hệ giữa hội chúng rối loạn lipid máu của YHHĐ với các chứng trạng của YHCT. Căn cứ trên các biểu hiện lâm sàng, người ta thấy giữa hội chứng rối loạn lipid máu và hội chứng đàm thấp có một sự tương đồng khá sâu sắc. Tuy nhiều khía cạnh còn phải bàn cãi nhưng về cơ bản đã thống nhất được các vấn đề cụ thể sau đây:

I. Bệnh nguyên.

Hội chứng rối loạn lipid máu phát sinh do những nguyên nhân chủ yếu sau đây:

- Yếu tố thể chất: do tiên thiên quyết định, thường là tiên thiên bất túc. Sách Linh khu thiên “thọ yểu cương nhu” viết: “Con người ta sinh ra, có cương có nhu, có cường có nhược, có dài có ngắn, có âm có dương”. Yếu tố này có thể hiểu tương tự như nguyên nhân di truyền của YHHĐ.

Yếu tố ăn uống (ẩm thực bất điều): do ăn quá nhiều các chất cao lương, thức ăn ngọt béo làm thương tổn tỳ vị, khiến vận hóa thất điều, đàm thấp nội sinh mà dẫn đến bệnh tật. Yếu tố này tương tự như việc ăn quá nhiều thức ăn giàu mỡ động vật mà YHHĐ quan niệm.

- Yếu tố ít vận động thể lực: sách “Tố vấn thiên tuyên minh ngũ khí luận viết: cửu ngọa thương khí, cửu tọa thương nhục” (nằm nhiều hại khí, ngồi nhiều hại cơ nhục), thương khí dẫn đến khí hư, thương nhục dẫn đến tỳ hư, tỳ khí hư suy mà gây ra bệnh.

   

- Yếu tố tinh thần (thất tình): lo nghĩ hại tỳ, giận dữ hại can, can mộc vượng khắc tỳ thổ làm tỳ thổ rối loạn, hư yếu, công năng vận hóa suy giảm, đàm trọc ứ trệ kinh mạch mà sinh bệnh. Đây chính là yếu tố căng thẳng thần kinh (stress) của YHHĐ.

2. Bệnh cơ.

Các yếu tố gây bệnh kể trên trực tiếp hoặc gián tiếp làm cho công năng của các tạng phủ bị rối loạn hoặc hư tổn, trong đó liên quan nhiều đến tỳ, thận, tâm, can mà đặc biệt là tỳ và thận (sơ đồ).

Tỳ là nguồn sinh đàm, tỳ khí hư yếu thì không thực hiện được công năng vận hóa thủy cốc khiến chất thanh khó thăng lên, chất trọc khó giáng xuống, chất tinh vi của thủy cốc không thể vận hóa, lưu chuyển bình thường, tụ lại mà hóa thành đàm trọc gây bệnh. Mặt khác, tỳ thổ suy yếu không chế được thủy thấp khiến thủy thấp ngưng đọng mà thành đàm.

Thận là gốc của đàm, thận dương hư suy, hỏa không làm ấm được thổ, thủy thấp và tân dịch không hóa khí được tràn lên thành đàm (thận hư thủy phiếm thành đàm). Thận âm khuy tổn, hư hỏa ở hạ tiêu chưng bốc hun nấu tân dịch cũng tạo thành đàm.

Can cũng có thể sinh đàm. Các chứng uất đàm, kinh đàm, khí đàm, phong đàm mà cổ nhân đã nói không loại nào không quan hệ đến can. Phế khí hư suy mất khả năng túc giáng thông điều thủy đạo, thủy dịch ngưng lại thành đàm hoặc giả phế âm bất túc, âm hư hỏa vượng, hư hỏa hun nấu tân dịch cũng tạo thành đàm...

Tóm lại, ngũ tạng hư tổn đều có thể sinh đàm. Đàm khi đã sinh ra đi theo khí và phân bố rất rộng. Trên thì lên tới đỉnh đầu, dưới thì xuống đến Dũng tuyền, trong thì vào tạng phủ, ngoài thì ra cơ nhục, bì phu làm cho kinh lạc nghẽn tắc, huyết mạch không thông, mạch lạc ứ trệ, mà thành ra các chứng đầu thống, huyễn vựng, tâm quý, hung tý... với các biểu hiện lâm sàng tương tự như bệnh cảnh của hội chứng rối loạn lipid máu của YHHĐ.

        

Như vậy theo YHCT, hội chứng rối loạn lipid máu là một chứng do nội đàm gây nên (đàm vô hình) có đặc điểm “bản hư, tiêu thực”, “tiêu” là đàm trọc nội sinh, tâm huyết ứ trở, “bản” là công năng tạng phủ thất điều hoặc hư tổn mà chủ yếu là ba tạng tỳ, thận và can.

3. Nguyên tắc trị liệu.

Vì bệnh có đặc điểm “bản hư, tiêu thực” cho nên về nguyên tắc là phải chú ý đầy đủ cả “tiêu” và “bản”. Tùy theo thế bệnh hoãn hay cấp mà lấy phù chính làm chủ, khứ tà là phụ hoặc khứ tà làm chủ, phù chính là phụ hoặc vừa phù chính vừa khứ tà, tiêu bản đồng trị. Bản hư chủ yếu là tỳ thận hư tổn, tiêu thực chủ yếu là đàm trọc, huyết ứ. Trị bản phải chú ý bổ tỳ, ích thận, trị tiêu phải chú ý các phép khứ đàm trừ thấp, thanh lý thông hạ, hoạt huyết hóa ứ...

 

 

Vì đàm trọc có vai trò rất quan trọng trong cơ chế bệnh sinh cho nên trong điều trị phải rất chú trọng phép chữa đàm. Phép chữa đàm rất phong phú nhưng có thể chia thành hai mặt: một là trị bản để chữa đàm gồm có các phép bổ tỳ, ích thận, nhuận phế, thư can..., hai là khi đàm đã hình thành thì phải chữa thẳng vào đàm gồm các phép lý khí hóa đàm, táo thấp hóa đàm, nhuận táo hóa đàm, thanh nhiệt hóa đàm, trừ phong hóa đàm, trừ hàn hóa đàm.

 

          

 

Vì khí có vai trò rất quan trọng trong việc sinh ra đàm nên trong các phép trị đàm phải chú ý nguyên tắc “trị đàm tiên trị khí” “khí thuận thì đàm tự tiêu” (Hải thượng Lãn Ông - Y trung quan kiện) và trong trị đàm “nhất thiết không nên vét sạch cả đàm đi” “vì đàm vốn sẵn có từ lúc sơ sinh và cũng là một vật để nuôi sống nữa” (Hải thượng Lãn Ông), có nghĩa là chỉ loại bỏ phần đàm dư thừa mà thôi.